Hỗ trợ kỹ thuật

Trang chủ

Quy trình ATSH ngăn ngừa dịch bệnh trong chăn nuôi vịt công nghiệp

Nguồn nước sạch giúp giảm nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh

Nguồn nước là yếu tố làm lây bệnh rất nhanh. Vì vậy đảm bảo vật nuôi uống nước sạch sẽ giúp giảm nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh.

Ba cách để tối ưu hóa chi phí thức ăn trong chăn nuôi gà

Duy trì hiệu suất tiêu hóa của đường ruột là mục tiêu của hầu hết của các chủ trại chăn nuôi gà. các biện pháp nhằm bảo vệ đường ruột và điều chế vi sinh vật...

Bệnh Lở mồm long móng: Nông dân không nên mất cảnh giác

Ở Việt Nam, bệnh LMLM là bệnh theo mùa, tỷ lệ lây nhiễm bệnh lở mồm long móng (LMLM) thấp. Tuy nhiên, do dịch bệnh chưa được diệt trừ hoàn..

Các biện pháp chống nắng, nóng và biến đổi khí hậu thất thường cho gia

Tạp chí Chăn nuôi – Những ngày qua thời tiết khí hậu có biến đổi bất thường, nắng nóng, nhiệt độ tăng quá cao, kéo dài liền hàng tuần liên tục làm ảnh...

Nuôi vịt thịt cao sản sao cho hiệu quả?

Tạp chí Chăn nuôi – Trong vài năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam phát triển (chưa tính đến tác động của dịch Covid-19), kéo theo sự phát triển...

Một số nguyên nhân khiến gà giảm hoặc ngừng đẻ, biện pháp khắc phục

Tạp chí Chăn nuôi - Bài viết tìm hiểu và đánh giá những nguyên nhân làm gà giảm hoặc ngừng đẻ để đưa ra những biện pháp khắc phục cho phù hợp. Từ các nguyên...

Quản lý thân nhiệt cho heo con vào mùa đông

Heo thuộc nhóm động vật đẳng nhiệt nhưng chúng lại khá nhạy cảm với sự thay đổi nhiệt độ, đặc biệt là các giống heo hướng thịt được nuôi nhốt trong điều kiện...

Cách phân biệt ba loại bệnh do vi khuẩn và nấm phổ biến ở cá chép

Cách phân biệt ba loại bệnh do vi khuẩn và nấm phổ biến ở cá chép phổ biến trong mùa lạnh: Bệnh thối mang/vây do vi khuẩn dạng sợi - Bệnh nấm mang do...

Bệnh xuất huyết trên cá trắm cỏ do vi rút

Tại Việt Nam, bệnh xuất huyết trên cá trắm cỏ do vi rút được công bố lần đầu tiên vào năm 1994, kể từ đó bệnh nhanh chóng lan rộng và là một trong những bệnh...

Phòng, chống dịch bệnh động vật sau mưa lũ

Ngày 20/10, Bộ NN&PTNT có công văn số 7264/BNN-TY do Thứ trưởng Phùng Đức Tiến ký ban hành gửi UBND các tỉnh, thành phố về việc tổng vệ sinh, sát trùng, phòng,...

Hướng dẫn bảo quản vắc xin thú y tại kho và tại các trại chăn nuôi

Vắc xin được sử dụng theo nguyên tắc hạn ngắn phải được sử dụng trước, tiếp nhận trước phải sử dụng trước và/hoặc theo tình trạng của chỉ thị nhiệt độ lọ vắc...

Kỹ thuật tiêu hủy động vật mắc bệnh

Theo Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT ngày 31/5/2016 của Bộ NN&PTNT về phòng, chống dịch bệnh động vật trên cạn, việc tiêu hủy động vật mắc bệnh và sản phẩm của...

Vịt là một loài có khả năng thích nghi cao với môi trường tự nhiên nhưng vẫn có thể dễ dàng bị lây nhiễm nhiều bệnh nguy hiểm. Để chăn nuôi vịt đạt năng suất và chất lượng cao, an toàn sinh học (ATSH) cần phải được thực thi nghiêm ngặt. Quy trình thực hiện và kiểm soát ATSH trong chăn nuôi vịt để phòng chống dịch bệnh, cụ thể như sau:

1. Kiểm soát phương tiện vào/ra trại
a. Đối với phương tiện vào trại
Xe vận chuyển vịt giống, xe bắt vịt, cám – thuốc, phương tiện cá nhân: Phải được rửa sạch toàn bộ và khô, đặc biệt sàn xe – thành xe trước khi vào khu sát trùng ở trạm ấp, cổng trại chăn nuôi.
Tại cổng sát trùng: các phương tiện trước khi vào trại, trạm ấp phải được xịt sạch bùn đất dính ở bánh xe, gầm xe và xung quanh xe trước khi qua cổng sát trùng.
Tất cả các phương tiện trước khi vào công trại, trạm ấp tiến hành phun kỹ thuốc sát trùng (Formavet, Vinadin tỷ lệ pha 1/200) bằng máy phun áp lực cao toàn bộ các phương tiện: xe vận chuyển heo, xe cám, xe thuốc, xe cán bộ công nhân, kỹ sư ra vào trại.
Sau khi phun ướt đẫm thuốc sát trùng toàn bộ phương tiện: bánh xe, gầm xe, trần – nóc và xung quanh xe bắt buộc tất cả các phương tiện phải lùi xe ra ngoài và nghỉ tại trước cổng trại 15 – 30 phút mới được phép vào trạm ấp, trại chăn nuôi.
Khi vào trại chăn nuôi phải đăng ký tên và biển số xe với bảo vệ.
Hố sát trùng tại cổng trại được thay 2 ngày 1 lần bằng nước pha thuốc sát trùng Vinadin hoặc B.K.Vet tỷ lệ pha 1/150.
b. Đối với phương tiện ra khỏi trại, trạm ấp
Khi ra khỏi trại, trạm ấp cần thông báo điểm đến tiếp theo cho kỹ sư hoặc quản lý trại và thông báo tới bác sĩ thú y để theo dõi và kiểm soát.
2. Kiểm soát người ra vào khu vực chăn nuôi
Tuyệt đối không cho khách, người lạ vào trại chăn nuôi khi chưa có sự đồng ý của cấp trên trực tiếp.
Bắt buộc 100% công nhân, kỹ sư, chủ trại và khách thăm trại phải thay quần áo, đi qua sát trùng (nếu có) khi vào trại chăn nuôi.
Bắt buộc 100% công nhân, kỹ sư, quản lý, nhân viên công ty và khách thăm trại (khi được cho phép) phải bỏ toàn bộ quần áo thường ngày tại vị trí quy định, đi qua sát trùng, tắm sạch và thay quần áo bảo hộ lao động, đi ủng bảo hộ trước khi vào khu vực chăn nuôi.
Kỹ sư, công nhân và khách đi lại trong khu vực chăn nuôi theo đúng khu vực quy định, không ra vào khu vực không được phép.
Khi xảy ra dịch bệnh cần thực hiện di chuyển trong trại theo hướng dẫn của Quản lý trại và bác sỹ thú y.
100% đầu các dãy chuồng, tại vị trí cửa ra vào bắt buộc phải có chậu nhúng ủng sát trùng và thực hiện nhúng ủng kỹ trước khi vào và ra khỏi chuồng nuôi.
3. Kiểm soát vật nuôi và động vật trung gian lây truyền mầm bệnh
Kiểm soát ruồi, muỗi, chuột, gián: Phun thuốc diệt ruồi, muỗi, gián, bẩy thuốc ruồi đầu mỗi dãy chuồng, đánh thuốc diệt chuột định kỳ 2 lần/tuần để hạn chế lây lan phát sinh dịch bệnh.
Kiểm soát chó mèo, gia súc, gia cầm: tất cả phải được nuôi nhốt có kiểm soát, không được thả rông trong khu vực chăn nuôi. Đặc biệt không được nuôi gia súc, gia cầm trong trại chăn nuôi vịt.
4. Kiểm soát và chủ động thực phẩm sử dụng trong trại, trạm ấp
Không sử dụng thịt, trứng vịt, ngan, ngỗng và sản phẩm chế biến từ thịt vịt – ngan – ngỗng mua từ bên ngoài làm thực phẩm sử dụng trong trại.
Có thể sử dụng thịt, trứng vịt được sản xuất tại trại làm thực phẩm trong trại.
Tuyệt đối không được mua và sử dụng thực phẩm không rõ nguồn gốc sử dụng cho trại.
5. Kiểm soát nguồn nước và thức ăn sử dụng trong chăn nuôi vịt
a. Kiểm soát nguồn nước
Tuyệt đối không sử dụng nước sông làm nước uống, nước rửa chuồng, xả máng cho trại chăn nuôi vịt.
Đối với các trại sử dụng nước mặt (ao, hồ) phải thường xuyên kiểm ra, kiểm soát tình trạng nguồn nước, đặc biệt tuyệt đối không vứt xác động vật chết (đặc biệt gia cầm, thuỷ cầm chết) xuống ao sử dụng nước cho chăn nuôi.
Nguồn nước sử dụng phải được lọc (cát, hệ thống lọc), để lắng và pha Clorine dioxide 4 – 6 gam/m³ hàng ngày vào cuối buổi chiều tại thời điểm bơm nước lên bể. Sau khi pha Clorine dioxide để tối thiểu 30 phút mới trước khi sử dụng cho vịt uống.
Máng uống được vệ sinh sạch sẽ hàng ngày, định kỳ 1lần/tuần ngâm rửa bằng thuốc sát trùng. Đường ống cấp nước, hệ thống nước uống tự động phải được bảo trì, bảo dưỡng, thau rửa 2lần/tháng và sau mỗi lứa nuôi.
b. Kiểm soát thức ăn sử dụng cho vịt
Sử dụng thức ăn luôn tới mới đảm bảo dinh dưỡng và kích thích vịt ăn nhiều. Tuyệt đối không cho vịt ăn các loại thức ăn ẩm, mốc.
Thức ăn được bảo quản trong kho khô ráo, tránh ẩm mốc. Định kỳ 1 lần/tuần thực hiện xông formol + thuốc tím kho chứa thức ăn.
Sử dụng hệ thống banet để sắp xếp thức ăn trong kho, định kỳ diệt chuột, kiến, gián trong kho chứa thức ăn.
6. Kiểm soát vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi
a. Vệ sinh trước và sau mỗi lứa nuôi
Chuồng trại đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm về mùa đông, duy trì mật độ đúng yêu cầu và đủ diện tích sân chơi. Phải thực hiện nghiêm túc đầy đủ luật lệ về công tác phòng trừ dịch bệnh, trước cửa chuồng nuôi phải có hố khử trùng. Trong chuồng nuôi chỉ nên có 1 loại vịt, ngan và nếu có 2 đàn thì chỉ nên cách nhau không quá 7 ngày tuổi.
Chuồng nuôi phải có chu kỳ luân chuyển sau mỗi lứa nuôi để có thời gian xử lý và trống chuồng tối thiểu 10 – 15 ngày. Vịt, ngan nhập về phải nuôi cách ly từ 15-20 ngày và giữ đúng nguyên tắc thú y quy định.
Chuồng trại, trang thiết bị chăn nuôi sau mỗi lứa nuôi phải được rửa để khô ráo, xung quanh chuồng nuôi phải vệ sinh công nghiệp sau đó tiến hành vệ sinh tiêu độc định kỳ bằng một số thuốc sát trùng như sau:
Vôi bột: Rải vôi bột xung quanh và bên trong chuồng nuôi sau đó phải để 2-3 ngày rồi quét dọn lại lần nữa (Biện pháp này ít dùng vì dễ làm cho vịt, ngan hô hấp hít phải bụi vôi bột).
Nuớc vôi: dùng nước vôi mới tôi quét nền chuồng, sân chơi và xung quanh tường phải để khô mới rải độn chuồng và đưa vịt, ngan vào.
Dùng Formol (1-3%): Phun toàn bộ nền và tường chuồng.Xông hơi bằng hỗn hợp Formol và thuốc tím với liều lượng 17,5gam thuốc tím + 35ml formol cho 1m³ chuồng nuôi, khi xông hơi đòi hỏi chuồng phải kín mới có tác dụng.
Xông hơi bằng hỗn hợp Formol và thuốc tím với liều lượng 20 gam thuốc tím + 40 ml formol cho 1m chuồng nuôi, khi xông hơi đòi hỏi chuồng phải kín mới có tác dụng.
Độn chuồng: Độn chuồng bằng phoi bào, trấu hoặc rơm dạ, cỏ khô cắt ngắn. Chất độn chuồng trước khi sử dụng phải được phơi khô, tiêu độc bằng các chất sát trùng kể trên, ủ một ngày sau đó rải đều cho bay hơi hết mới đưa vào chuồng. Trong 3 ngày đầu cần lót bạt hoặc giấy báo để tránh xước màng bơi ở chân vịt.
Chuồng trại và các dụng cụ chăn nuôi như: Máng ăn, máng uống, lò sưởi, cót quây vịt, ngan…, phải được rửa sạch sau đó sát trùng bằng một trong các loại thuốc sát trùng kể trên rồi chuẩn bị sẵn trong chuồng trước khi nhập vịt, ngan về.
b. Vệ sinh sát trùng chuồng trại định kỳ
Phun sát trùng 3 lần/tuần bên trong và ngoài trại bằng thuốc sát trùng Vinadin, MEKOVET nồng độ 1/200 (1 lít sát trùng/200 lít nước sạch). Khi phun sát trùng bề mặt phải đạt tối thiểu 3 lít/10 m2.
Rắc vôi hoặc dội nước vôi lối đi, hành lang và xung quanh chuồng, trước các cổng ra vào trại 2 lần/tuần.
Xịt, rửa gầm ngày 1 lần, xả nước vôi gầm 2 lần/tuần.

7. Xử lý xác chết và chất thải chăn nuôi
Nước thải, nước rửa chuồng trại của chăn nuôi vịt theo hệ thống mương tiêu thoát về đến hố chứa và phải được xử lý trước khi đưa ra môi trường bên ngoài trang trại. Nếu lượng nước thải không được xử lý kịp thời sẽ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng và không an toàn cho sản xuất.
Phân và độn chuồng trong quá trình chăn nuôi được thu gom lại thành đống ở nơi quy định, xử lý theo phương pháp nhiệt sinh vật (ủ vi sinh, ủ compost) sau đó mới được sử dụng cho trồng trọt.
Xác gia cầm chết phải tiến hành huỷ theo phương pháp thiêu đốt, không nên chôn sẽ làm bẩn nguồn nước ngầm và ô nhiễm môi trường.
Nấu chín hoặc thiêu đốt xác vịt chết tại khu vực quy định.
Nếu chôn lấp: Chôn lấp tại khu vực quy định xa khu vực chăn nuôi, xa nguồn nước và tiến hành đào hố sâu tối thiểu 1,5m, rác vôi, phun sát trùng bằng Vinadin, Formavet tỷ lệ 1/200 khi chôn lấp và khu vực xung quanh khi chôn lấp xác vịt chết.
8. Quản lý sức khoẻ đàn
Thực hiện nghiêm ngặt chương trình phòng bệnh bằng vaccine phù hợp với dịch tễ của từng vùng chăn nuôi.
Định kỳ kiểm tra, đánh giá sức khoẻ đàn để kịp thời có các biện pháp can thiệp.
Đánh giá hiệu quả sau tiêm phòng định kỳ 14 hoặc 21 ngày sau khi tiêm phòng vaccine.
Định kỳ đánh giá công tác thực hiện an toàn sinh học của từng trại tần suất 2 tháng 1 lần để có những điều chỉnh kịp thời.
Thực hiện All out – All In theo chuồng, theo khu để ngăn ngừa dịch bệnh lây nhiễm chéo giữa các chuồng, các lứa nuôi.

Email: famifeed@gmail.com

Thị tứ Chợ Hệ, Xã Thanh Bính, Huyện Thanh Hà, Tỉnh Hải Dương, Việt Nam

0962.828.663

Công ty cổ phần FAMIFEED

Thức ăn cho lợn

Thức ăn cho vịt

Thức ăn cho gà

Thức ăn cho cá

Sản phẩm

Về chúng tôi

Tin tức

Hỗ trợ kỹ thuật

Liên hệ

LIÊN KẾT

Thức ăn cho chim cút

Thức ăn cho bò

©2020 Allrights reserved Famifeed.com

Hỗ trợ kỹ thuật

Về chúng tôi

Tin tức

Sản phẩm

Liên hệ